Chim Hồng Hoàng

chim hong hoangHồng hoàng hay phượng hoàng đất (danh pháp hai phần: Buceros bicornis) là thành viên to lớn nhất trong họ Hồng hoàng (Bucerotidae). Hồng hoàng sinh sống trong các khu rừng của Ấn Độ, Đông Nam Á và miền nam Trung Quốc. Kích thước to lớn và màu sắc đầy ấn tượng của chúng đã góp phần làm cho chúng trở thành một phần trong văn hóa và nghi lễ của một số các bộ lạc địa phương. Hồng hoàng sống khá thọ với tuổi thọ đạt tới 50 năm trong điều kiện nuôi nhốt.

Chim Hồng hoàng là loài chim lớn, có thể dài tới 95–120 cm (38-47 inch), với sải cánh dài tới 152 cm (60 inch) và cân nặng 2,15–4 kg (4,7-8,8 lb). Đặc trưng nổi bật nhất của hồng hoàng là phần mũ mỏ màu vàng tươi và đen trên đỉnh chiếc mỏ lớn của nó. Mũ mỏ rỗng và chưa rõ mục đích để làm gì mặc dù người ta tin rằng nó là kết quả của chọn lọc giới tính. Hồng hoàng mái nhỏ hơn và có mắt màu xanh lam thay vì mắt đỏ. Hồng hoàng trống rỉa lông để bôi chất nhờn màu vàng vào lông cánh sơ cấp cũng như mỏ để làm cho chúng có màu vàng tươi

chim hồng hoàng

Hồng hoàng mái làm tổ trong lỗ rỗng trên thân các cây lớn và miệng tổ được bịt bằng một lớp trát bằng phân. Nó tự giam mình trong tổ cho tới khi chim non phát triển tương đối, dựa trên thức ăn cho chim trống đem về thông qua khe nứt trong lớp trát. Trong thời kỳ này chim mái trải qua thời kỳ rụng lông hoàn toàn. Mỗi lứa đẻ gồm 1 tới 2 trứng và được ấp trong 38-40 ngày.

Hồng hoàng tạo thành các cặp một vợ một chồng nhưng sống thành bầy từ 2-40 cá thể.

hong hoang

Một số bộ lạc địa phương là nguồn đe dọa đối với hồng hoàng do họ săn bắt hồng hoàng vì một số bộ phận khác nhau của chúng. Máu của chim non được cho là có tác dụng an ủi đối với những linh hồn quá cố và trước hôn lễ, những người đàn ông của một số bộ lạc tại Ấn Độ sử dụng lông của chúng để làm mũ đội đầu, còn đầu hồng hoàng cũng hay bị dùng làm vật trang trí

Đặc điểm tóm tắt

Mô tả:

Chim trưởng thành có kích thước lớn nhất so với các loài cùng họ. Mắt cằm và họng cùng với cánh, lưng, ngực và trước bụng màu đen. Giữa cánh có một dải trắng và một cánh trắng. Phần còn lại của bộ lông trắng, thỉnh thoảng có phớt vàng. Cuối lông đuôi có dải ngang đen rộng. Mỏ và sừng rất lớn ở chim đực và nhỏ hơn ở chim cái. Mắt đỏ. Da trần quanh mắt đỏ thịt, mí mắt xám. Chân xám.

Sinh học:

Đặc tính sinh sản và làm tổ giống như loài Niệc hung. Thức ăn chủ yếu là quả cây.

Nơi sống và sinh thái:

Sống định cư và làm tổ trong các vùng rừng rậm kể cả rừng thông nơi có nhiều cây gỗ lớn và ở độ cao đến khoảng 1200m. Thường gặp kiếm ăn ở tầng trên của rừng.

Phân bố:

Việt Nam: Trên khắp lãnh thổ nước ta.

Thế giới: Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Đông Dương, Malaixia.

Giá trị:

Nguồn gen quý. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng:

Số lượng còn lại không nhiều. Trong những năm gần đây ở nhiều nơi đã trở nên rất hiếm hoặc không còn gặp do nơi sống bị tác động mạnh, bị thu hẹp và bị săn bắt. Mức độ đe dọa: bậc T.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Như đối với loài niệc hung và niệc mỏ vằn. Nghiên cấm việc săn bắt. Bảo vệ tốt các vùng còn lại, trước hết là quản lý tốt các quần thể đã gặp ở vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Đồng Nai).